Bà Nguyễn Thị Minh (73 tuổi), ở xã Khánh Thuận, huyện U Minh, Cà Mau cho biết: Từ nhỏ bà đã thấy ở quê mình có nghề hầm than. Thuở ấy rừng ở Cà Mau còn hoang vu và bạt ngàn, người mưu sinh bằng nghề này chỉ cần vào rừng đốn cây đem hầm là có than để bán.

Có lẽ vậy mà những năm 50 – 60 của thế kỷ trước, nghề hầm than phát triển rầm rộ, có lúc chỉ tính trong vùng U Minh đã có hơn 300 lò than lớn, chưa kể hàng trăm hộ dân khác hầm than nhỏ lẻ tại nhà.

Gỗ để hầm than rất đa dạng, hầu hết là các loài cây gỗ sống trong rừng ngập mặn ở U Minh như đước, vẹt, dà, cóc, tràm… Đây là những loại gỗ cho than có thời gian cháy lâu và tạo nhiệt cao hơn các loại gỗ khác nên được nhiều người ưa chuộng.

Hầm than tràm là một trong những nghề rất đặc biệt ở vùng đất U Minh (Ảnh: Nguyễn Hữu Thành)

Rừng U Minh, nơi cung cấp nguồn nguyên liệu chính cho việc hầm than.

Than tràm với ưu điểm cháy lâu và cho nhiệt cao phù hợp cho việc hầm than thủ công nhỏ lẻ ở hộ gia đình.

Chị Nguyễn Kim Hai ở ấp 21, xã Khánh Thuận là người có hơn 20 năm hầm than cho biết: Trước đây chị đi làm công cho lò than lớn là loại xây gạch kiên cố, nhưng dần nhu cầu than ít đi nên các lò lớn cũng dần thu hẹp bớt. Chị về nhà tiếp tục hầm than theo kiểu thủ công, không xây lò mà chất đống ở trước sân nhà để đốt và ủ.

Mẻ than vừa mới được nhóm lửa của chị Kim Hai với ước tính sẽ cho khoảng 13 bao than sau 3 ngày hầm liên tục

Tràm được mua từng cây về ngâm nước để xài lâu, tránh những khi khan hiếm nguồn nguyên liệu

Tràm được tước sạch vỏ, cắt nhỏ theo kích thước đều nhau để chuẩn bị xếp vào mẻ hầm

Ngày nay, người dân không được phép tự ý vào rừng để đốn củi như trước, nhằm để bảo vệ và tránh tình trạng cháy rừng. Do vậy các hộ hầm than phải đặt mua gỗ nguyên liệu từ các nơi được phép khai thác với giá từ 3.000 – 5.000 đồng/cây tràm.

Tràm sau khi mua về phải được lột sạch vỏ, cắt thành từng khúc đều nhau, chất đứng thành đống như hình nón lá sao cho khít với nhau. Sau đó dùng vỏ tràm, cỏ rác quanh nhà đắp lên, un từ 3 – 4 ngày thì mới chín than.

Người đốt phải theo dõi lò than suốt ngày đêm để tránh lò bị tắt hoặc mưa gió, cháy lan… Người hầm than lâu năm chỉ cần ngửi mùi khói hoặc nhìn màu sắc của lửa là có thể biết được than đã chín hay chưa.

Than khi đã đủ lửa sẽ được đắp lên bằng một lớp bùn, sao cho kín khí, để cho than tự tắt và nguội dần. Than khi đã nguội sẽ được mở lò lấy ra và chọn lọc, lấy những loại đã thực sự chín, còn những cây than “non” chưa đủ lửa thì chừa lại để lần hầm sau.

Một mẻ than vừa mới hầm xong, đang trong giai đoạn chọn lựa ra than

Trung bình một mẻ than phải đốt khoảng 0,5 m3 gỗ tràm (tương đương khoảng 3 - 4 triệu đồng), sau 3 ngày un sẽ cho ra từ 10 – 15 bao than, mỗi bao khoảng 20 – 30 kg. Với giá bán than tràm hiện nay từ 10.000 – 15.000 đồng/kg, sau khi trừ các chi phí thì người hầm than có thể lãi từ 500.000 – 800.000 đồng/mẻ than. Thương lái đến tận nhà thu mua sau đó chuyển đi bán ở nhiều nơi như: Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang,…

Than được chọn lọc độ chín – sống trước khi giao cho thương lái

Với lượng gỗ ngày một ít và nhu cầu sử dụng than không còn nhiều như trước, nghề hầm than nay hầu như chỉ còn là nghề của “con nhà nghèo”. Nhiều hộ hầm than đã bỏ nghề đi Bình Dương làm thuê. Một số hộ khác tiếp tục giữ nghề vì không đất, không vốn. Nghề hầm than cũng làm theo thời vụ, chỉ làm được trong mấy tháng mùa nắng. Nguồn thu nhập trong mấy tháng hầm than chỉ đủ sống lay lắt cả năm ở xứ này.

Đi dọc theo các con kênh ở huyện U Minh, dễ dàng bắt gặp nhiều hộ giữ tràm, đước ven mép nước để làm nguyên liệu hầm than



Linh An

Theo Thế Giới Trẻ