Khi vợ chồng xảy ra chuyện “cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt”, chính quyền địa phương, hội phụ nữ, bà con láng giềng…thường tổ chức hòa giải, khuyên ngăn. Tuy nhiên theo quy định pháp luật thì khi ly hôn, việc hòa giải ở cơ sở chỉ mang tính chất khuyến khích, không phải là thủ tục bắt buộc.

Khi ly hôn, bà con cần quan tâm và yêu cầu giải quyết 3 vấn đề cơ bản sau: quan hệ hôn nhân, con cái và tài sản chung.

Các giấy tờ phải nộp khi ly hôn?

Khi ly hôn bà con cần chuẩn bị các giấy tờ sau để nộp cho tòa án:

- Đơn xin ly hôn (theo mẫu và có đủ nội dung theo quy định);

- Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (hoặc bản sao và lý do không có bản chính);

- Bản sao Chứng minh nhân dân, Hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú của vợ, chồng;

- Các giấy tờ chứng minh về tài sản như: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở; cà vẹt xe…

- Bản sao giấy khai sinh của các con.

Trên thực tế có những trường hợp người vợ hoặc chồng hoặc gia đình bên còn lại không cung cấp hoặc gây khó dễ cho người yêu cầu ly hôn. Do đó khi có ý định ly hôn, bà con nên chuẩn bị trước các giấy trên. Trường hợp không thể thu thập được các loại giấy tờ này thì bà con cũng có thể liên hệ các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xin cấp hoặc xác nhận để hoàn thiện hồ sơ.

Mẫu đơn xin ly hôn

Khi ly hôn con cái giải quyết như thế nào?

Trước tiên vợ chồng cần thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con. Trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên.

Khi ly hôn tài sản được phân chia như thế nào?

Tài sản riêng của vợ hoặc chồng vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó. Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm: tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo theo thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

Đối với những cặp vợ chồng trước khi kết hôn mà đã có thỏa thuận bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực về tài sản thì việc phân chia được thực hiện theo thỏa thuận này.

Tài sản chung của vợ chồng trước tiên do vợ chồng thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì theo nguyên tắc chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Luật sư Đỗ Thanh Lâm – Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh.

Theo Thế Giới Trẻ